The Conquest of Illusion - Chương 3: Trực giác và Lý Trí
Sự Hiện Diện vượt lên trên mọi khoa học. Tôi tiếp tục lược dịch chương 3 sách Chinh phục ảo tưởng.
Nguyên nhân chính khiến chúng ta không thể nắm bắt Cái Một là vì sự hiểu biết của chúng ta về Nó không đến từ tri thức khoa học, cũng không đến từ tư duy, như cách ta hiểu các sự vật khác, mà đến từ một Sự Hiện Diện vượt lên trên mọi khoa học. Khi linh hồn có được tri thức khoa học về một điều gì đó, nó rời xa sự hợp nhất và không còn là một nữa; vì khoa học đòi hỏi lý luận diễn dịch, mà lý luận diễn dịch đòi hỏi tính đa dạng. Để đạt đến Sự Hợp Nhất, chúng ta phải vươn lên trên khoa học và không bao giờ rời xa cái vốn là duy nhất; chúng ta phải từ bỏ logic, từ bỏ các đối tượng của nó, và mọi con đường khác ngoại trừ con đường của Cái Một.
(— Plotinus, Ennead VI., 9, 4)
TÂM TRÍ HAI NỬA
Ảo tưởng chỉ là một phần của Thực Tại khi nó được nhận ra là ảo tưởng. Chỉ khi nào chúng ta quên đi tính tương đối vốn có trong hình ảnh thế giới của mình và nâng nó lên thành một Thực Tại độc lập, rồi sau đó lại quên mất rằng chính mình đã làm vậy — chỉ khi đó ảo tưởng mới thực sự bắt đầu. Từ đó, chúng ta bắt đầu đặt ra những câu hỏi được sinh ra từ ảo tưởng và thấm đẫm ảo tưởng đến tận từng thớ sợi; từ đó, chúng ta bắt đầu lạm dụng tính cao quý của tâm trí mình bằng cách đem lý trí ra giải quyết những vấn đề giả tạo đó. Rồi chúng ta, cùng với lý trí của mình, trở thành nô lệ của hình ảnh thế giới do chính ta tạo ra, thành nạn nhân của chính sai lầm của ta — và từ đó bản chất của chúng ta trở thành hai nửa: một bên là bản thể thật sự của chúng ta trong thế giới của Thực Tại, vận hành tự do với tầm nhìn trong sáng; bên kia là bản thể của chúng ta đã bị ngoại hiện hóa vào hình ảnh thế giới, bị trói buộc vào ảo tưởng của nó và bị kết án phải tham gia vào vũ điệu tử thần của thế giới hiện tượng. Trong thế giới đó — hình ảnh thế giới của chính ta — tư duy của chúng ta đã mất sức sống, phương thức nhận thức của ta trở thành một quá trình vụng về, nơi ta chỉ quan sát cái bóng vờn quanh mình và học cách phân biệt các nét khác nhau của nó. Cái hoạt động kém cỏi, không sinh sản ấy của tâm trí trong vòng giam cầm của hình ảnh thế giới — tôi gọi đó là lý trí. Còn cái dùng tâm trí sống động một cách tự do trong thế giới của Thực Tại — tôi gọi đó là trực giác.
Sự khác biệt giữa trực giác và lý trí là sự khác biệt giữa sự sống và cái chết. Trực giác thì trực tiếp, chắc chắn, sáng tạo và tiến bộ; lý trí thì cằn cỗi, trơ trọi, gián tiếp trong phương pháp, bất định trong kết luận, và không có khả năng nhìn thấy sự thật. Trong những giai đoạn đầu của tiến hóa, con đường dẫn đến tri thức của chúng ta là bản năng — thứ nhận biết trực tiếp mà không cần lý luận. Người nguyên thủy hiểu biết các quy luật của Tự Nhiên theo cách chúng ta không thể sánh kịp; con vật biết bằng bản năng những gì con người cần nhiều ngày, thậm chí nhiều năm để lý giải. Chỉ cần so sánh sự chính xác không ngờ của những con chim di cư khi tìm về tổ cũ — một mảnh đất chỉ vài mét vuông trên toàn bộ bề mặt địa cầu — với những phương pháp vụng về mà con người dùng để định hướng: bản đồ, la bàn, kính lục phân và các tính toán phức tạp, các thiên thể và cột mốc trên mặt đất, thiếu một thứ nào là lạc ngay.
Khi lý trí ra đời, tri thức bản năng biến mất. Cái thống nhất vô thức của sự sống — thứ đã làm cho bản năng trở nên có thể — bị ngăn lại tạm thời bởi cảm giác về sự riêng biệt và cá nhân ngày càng lớn, chính cảm giác đó đã khai sinh ra lý trí. Khi con người không còn nghe thấy tiếng nói của tri thức bản năng vang lên từ bên trong nữa, anh ta buộc phải định hướng bằng phương pháp mệt nhọc là thu thập dữ kiện về thế giới xung quanh, rồi qua phân tích và phân biệt các dữ kiện đó, đi đến sự hiểu biết về các nguyên lý ẩn chứa bên trong. Như vậy, con đường của lý trí là một giai đoạn tất yếu, nhưng không nghi ngờ gì rằng tri thức của con người trong thời kỳ này thiếu sức sống sáng tạo. Hình ảnh thế giới của anh ta giữ anh ta trong vòng nô lệ, giam cầm tâm trí trong những giới hạn và ảo tưởng của nó. Tâm trí bị giam cầm đó — hay lý trí — do đó luôn luôn bị chi phối bởi ảo tưởng lớn lao: rằng hình ảnh thế giới là một Thực Tại khách quan.
Thế nhưng rồi đến một lúc, sức mạnh của ảo tưởng suy yếu và tâm trí được giải phóng một lần nữa nhìn thấy Tầm Nhìn của Thực Tại. Cùng với điều đó, trực giác bắt đầu phát triển như một con đường dẫn đến tri thức — kết hợp trong mình tính trực tiếp của bản năng và sự nhận thức có ý thức mà lý trí đã trao cho. Bản năng là tri thức vô thức; người nguyên thủy biết, nhưng không biết tại sao, không thể biểu đạt một cách có ý thức cái đang nói với anh ta từ bên trong. Trong trực giác cũng có cái tia chớp nhận biết trực tiếp như vậy, nhưng lúc này cả một cấu trúc lý trí vĩ đại đã được xây dựng qua nhiều thời đại can thiệp, và nhờ cấu trúc đó, tri thức trực giác có thể đi xuống cuộc sống thường ngày của ta trong sự tỉnh thức đầy đủ. Không có cái cấu trúc đó, không có lý trí như một công cụ, thì tư tưởng gia bên trong cũng không thể nào chuyển dịch tầm nhìn của mình thành ngôn ngữ dễ hiểu cho đồng loại; người nghệ sĩ dù vĩ đại đến đâu cũng cần một nhạc cụ để chơi.
Cần phân tích tại sao việc dùng lý trí một cách bừa bãi trong triết học lại chứa đựng quá nhiều hiểm họa. Trong chừng mực lý trí bị làm nô lệ bởi ảo tưởng rằng hình ảnh thế giới là một Thực Tại bên ngoài, nó không nghi ngờ sự tồn tại khách quan của hình ảnh thế giới đó như một thế giới thực ngoài kia. Điều này có nghĩa là nó chấp nhận tất cả các đặc tính của hình ảnh thế giới như những Thực Tại khách quan — phẩm chất của vật chất, tính đặc của các vật thể, Thực Tại khách quan của thời gian và không gian, sự đa dạng và riêng biệt của muôn loài — tất cả đều là những yếu tố mà Thực Tại khách quan của chúng không bị nghi ngờ chừng nào tâm trí còn bị giam cầm bởi ảo tưởng. Khi con người, đang bị trị vì bởi ảo tưởng, thậm chí không hề nghi ngờ sự tồn tại của nó, bắt đầu đặt ra những câu hỏi về các vấn đề lớn của cuộc sống — điều không thể tránh khỏi là mọi câu hỏi đó đều được đặt ra từ góc nhìn của hình ảnh thế giới như một Thực Tại bên ngoài, tức là mọi câu hỏi đều thấm đẫm cái mà ta đã nhận ra là ảo tưởng căn bản của cuộc sống thường ngày. Do đó ảo tưởng không chỉ tô màu cho từng câu hỏi ta đặt ra, mà nhiều khi còn là trái tim của chính câu hỏi đó. Điều này có nghĩa là, mà ta không hề hay biết, có một yếu tố ảo tưởng len lỏi vào tận cái cấu trúc của các câu hỏi và vấn đề triết học của ta — khiến những câu hỏi đó trở thành quái thai, bị hủy hoại, không thể giải quyết vì chúng bắt rễ từ sai lầm.
Mọi câu hỏi về sự khởi đầu của thời gian hay sự khởi đầu của sáng tạo, ví dụ vậy, đều cho thấy ngay trong bản chất của vấn đề mà chúng chạm đến — sự chấp nhận vô tư thời gian như một Thực Tại khách quan — và do đó là những vấn đề mà ta có thể suy nghĩ hàng năm trời nhưng không bao giờ giải quyết được. Thật ra, nếu ta tuyên bố đã giải quyết được một vấn đề như vậy, ta đã tự kết tội chính mình bởi chính tuyên bố đó. Cũng vậy với việc chấp nhận vô tư tinh thần và vật chất, hay bản ngã và phi ngã, như một nhị nguyên thật sự. Vô số lý thuyết đã được đưa ra để hòa giải hai thứ đó, hoặc bằng cách loại bỏ một trong hai, hoặc bằng một thứ thỏa hiệp trong đó cả hai được coi là những khía cạnh đối lập vĩnh cửu của một Thực Tại vĩ đại. Dù những giải pháp như vậy có khéo léo đến đâu, tất cả đều buộc phải sai, vì chúng không hề đặt câu hỏi cho chính vấn đề được nêu ra mà không trước tiên điều tra xem liệu vấn đề đó có phải là sản phẩm của sự hiểu lầm hay không. Chúng ta có thể thêm vào rất nhiều vấn đề như vậy và trong các chương sau sẽ có nhiều cơ hội chỉ ra những ví dụ về các câu hỏi sai lầm đó nhưng vẫn là những vấn đề quen thuộc của triết học. Song hiện tại, điều cần thấy là tại sao lý trí lại không đủ như một phương pháp và cách tiếp cận triết học với sự thật.
Lý trí, với tư cách là tâm trí bị trói buộc vào ảo tưởng, chỉ có thể hoạt động trong những giới hạn của hình ảnh thế giới. Cấu trúc căn bản của hình ảnh thế giới đó là nhị nguyên — với bản ngã ở một phía và mọi thứ khác ở phía kia: tự ngã và phi ngã. Lý trí do đó tất yếu chấp nhận sự riêng biệt của mọi vật như một sự thật căn bản, chấp nhận “tính khác” của thế giới quanh ta là không thể phủ nhận, và trong toàn bộ sự suy tư của mình không bao giờ có thể thoát khỏi cái cấu trúc căn bản mà nó đang bị giam cầm trong đó. Lý trí có thể nhận ra về mặt lý thuyết sự tồn tại của thống nhất — thống nhất của sự sống, của năng lượng, hay bất cứ cái gì ta muốn gọi thứ kết nối mọi sự — nhưng dù vậy, sự riêng biệt và tính đa dạng vẫn gây ấn tượng mạnh mẽ hơn rất nhiều lên lý trí đến mức khái niệm về một thống nhất căn bản chỉ trở thành một cái bóng nhợt nhạt bên cạnh vũ điệu đa sắc đa màu của chúng. Chính các phương pháp của lý trí — phân biệt giữa cái này với cái kia, phân tích một sự vật thành các yếu tố cấu thành, học cách quan sát sự khác biệt nhỏ nhất giữa trường hợp này và trường hợp khác — tất cả đều hướng đến sự riêng biệt và tính đa dạng như là lãnh địa của lý trí. Để có dữ liệu, lý trí phải dựa vào tri giác cảm quan và sự suy diễn từ các nguyên lý căn bản; từ đó nó xây dựng các lý thuyết và hệ thống.
Trong chừng mực khoa học chỉ muốn khảo sát và khám phá thế giới bên ngoài bao quanh ta, lý trí là công cụ đủ dùng cho khoa học — dù ngay cả trong các kết luận của khoa học, trực giác cũng đóng vai trò lớn hơn nhiều so với ta thường nghĩ. Về căn bản, tri giác cảm quan được lý trí phân tích và phối hợp là phương pháp của khoa học, và vì khoa học không chủ yếu quan tâm đến những vấn đề căn bản của cuộc sống, không có gì phải phản đối chỗ đứng quan trọng mà lý trí có trong công việc của nó. Chỉ khi ta bước vào địa hạt triết học với việc truy cầu Thực Tại tối hậu, ta mới phải nhìn nhận sự bất cập của lý trí và có ý thức sử dụng trực giác như một con đường dẫn đến tri thức. Vì trong triết học ta phải đối phó với chính những quan hệ đó giữa bản thân ta và thế giới quanh ta, và của thế giới này với Thực Tại tối hậu — những thứ mà lý trí quá tự tin, chấp nhận đúng như bề ngoài của chúng. Do việc chấp nhận một cấu trúc nhị nguyên của thế giới và tính đa dạng như là đặc tính của vũ trụ này, lý trí không bao giờ có thể làm hơn là thấy cái này hay cái kia là đúng. Với nó, thế giới không thể vừa là một vừa là nhiều cùng một lúc, và dù nó có thể nhận ra điều đó về mặt lý thuyết, nó không thể nhận ra nó như một sự thật. Do đó nó không bao giờ nhận ra được hơn những nửa sự thật và sẽ bảo vệ những nửa sự thật đó với tất cả sức lực.
Trong triết học, điều cốt yếu là chúng ta phải ý thức được phương pháp mình đang dùng, ý thức được cái cơ quan mà ta làm việc với nó trong việc nhận ra sự thật, và ý thức được cả khả năng lẫn giới hạn của nó. Trực giác và lý trí đều có chỗ đứng của mình trong phương pháp của triết học, đều có nhiệm vụ của mình và đều có giới hạn của mình. Lý trí, là tâm trí hoạt động trong những giới hạn của hình ảnh thế giới, có thể và phải phục vụ như một kỹ thuật, thông qua đó người nghệ sĩ bên trong — trực giác — có thể làm cho tầm nhìn của mình về vẻ đẹp hay sự thật trở nên hữu hình. Trực giác, nhận ra sự thật trong thế giới của Thực Tại, là cơ quan đích thực của triết học; không có ánh sáng sáng tạo của nó, lý trí chỉ là kỹ thuật không có cảm hứng — vô hồn và cằn cỗi. Mặt khác, tầm nhìn về sự thật đạt được trong thế giới của Thực Tại, và chỉ ở đó, cần đến kỹ thuật của lý trí nếu muốn được truyền đạt bằng ngôn ngữ dễ hiểu cho người khác, hay ngay cả cho chính ta trong ý thức thường ngày. Nhưng ta phải nhận ra những nhiệm vụ và chức năng riêng biệt của lý trí và trực giác. Nếu không làm vậy, ta dễ biến lý trí thành kẻ khám phá sự thật thay vì kẻ trình bày sự thật, và biến triết học thành trò chơi lý trí, thiếu sức sống sáng tạo.
Bi kịch là hầu hết mọi người không thể phân biệt được bánh mì nuôi dưỡng của trực giác với những hòn đá cằn cỗi của lý trí; trong việc học hỏi của mình, họ tiêu thụ với sự không phân biệt cả hai thứ như nhau, và sẵn sàng lên án công trình của trực giác là “chỉ là lý trí suông” cũng như sẵn sàng tôn thờ vỏ trấu của lý trí như thể đó là những hoa trái của trực giác. Lý trí không qua là một bộ xương, nhưng với nhiều người tiếng lách cách của xương nó nghe hay không kém gì tiếng nói của trực giác — họ lắng nghe cả hai với cùng sự kính trọng, hoặc phủ nhận cả hai trong một hơi thở. Ta sẽ gặp nhiều ví dụ như vậy, nơi lý trí đóng giả trực giác, hay ngược lại, tiếng nói của trực giác bị nhầm lẫn với tiếng nói của lý trí.
Thế nhưng trong cuộc sống của tất cả chúng ta có nhiều tri thức trực giác hơn ta nhận ra. Bao nhiêu lần, khi gặp một người hay bước vào một nơi chốn, ta không có được cái tia chớp của trực giác — với sự chắc chắn không sai lầm — dẫn ta thẳng đến trung tâm của mọi việc và cho ta hiểu sâu hơn về tính cách của người đó hay của nơi chốn đó so với bất cứ quá trình lý luận hay suy diễn dài dòng nào từ bên ngoài có thể cho ta. Ấn tượng đầu tiên của ta thường có bản chất đó; trước khi một người mở miệng, ta đã biết họ sẽ có ý nghĩa gì với ta, ta thích họ hay không, ta tin họ hay sẽ theo họ như một người lãnh đạo. Tất cả đó là tri thức trực giác và tự nhiên là, trong những giai đoạn đầu của sự phát triển trực giác, dễ bị nhầm với thành kiến đơn thuần. Tuy vậy nó đóng một vai trò lớn hơn nhiều trong cuộc sống của ta so với những gì ta nhận ra. Điều tương tự cũng đúng với tri thức khoa học của ta — ngay ở đó cũng chính là cái tia chớp của trực giác khiến nhà khoa học nhìn thấy sự thật, rồi từ đó khai sáng các thí nghiệm tiếp theo của anh ta. Chúng ta sẽ đi đến nhận ra rằng triết học và cả khoa học, trong chừng mực mà chúng thực sự mang tính kiến tạo, đều luôn sử dụng phương pháp của trực giác — tuy đôi khi là một cách vô thức — và rằng lý trí phần lớn chỉ là kỹ thuật thông qua đó cái nhận thức mà trực giác mang lại được truyền đạt cho người khác hay được làm sáng tỏ cho chính ta.
TRI THỨC TRỰC GIÁC VÀ CHỨNG MINH LÔ-GIC
Ở đây ta phải đối mặt với hai ngụy biện: ngụy biện cho rằng chứng minh lô-gic dẫn đến sự thật, và ngụy biện cho rằng trực giác không có phần nào trong sự thật được tiết lộ như vậy.
Phương pháp lô-gic để trình bày bất kỳ học thuyết hay lý thuyết nào là một phương pháp trong đó mỗi mệnh đề tiếp nối mệnh đề trước theo cách mà những gì được nói ở mệnh đề sau đã được chứa đựng trong nguyên tắc ở những mệnh đề trước, và không có gì mới được đưa vào mà không được liên kết đúng chỗ. Lô-gic, với tất cả các quy tắc và nguyên tắc của nó, là sự tuân theo luật nhân quả của tư duy — toàn bộ chuỗi lý luận được kết nối nhân quả với các tiền đề hay tiên đề nhất định vốn được khai triển một cách lô-gic như vậy. Lô-gic là phương pháp của lý trí, là kỹ thuật lý trí và bản thân nó luôn luôn không tạo ra gì. Nó cần thiết, vì không có nó ta không thể giải thích cho ý thức thường ngày sự thật mà trực giác có thể đã nhìn thấy; nhưng lô-gic không bao giờ đưa ra sự thật bằng sức mạnh riêng của mình.
Lý luận toán học có lẽ là ví dụ thuần túy nhất của phương pháp lô-gic; thế nhưng trong toán học không có gì mới được tạo ra như là sự thật, và các kết luận ta đạt đến đã được chứa đựng trong các nguyên tắc hay tiên đề mà ta khởi đầu — dù ta có thể không nhận ra chúng ở đó. Chính các tiên đề đó là tự hiển nhiên với ta; ta không cảm thấy cần phải chứng minh chúng và nhận ra chúng bằng trực giác. Như vậy mọi chứng minh toán học đều được dựa trên các nguyên tắc không thể chứng minh được, và vì khi làm việc với một bài toán toán học ta không đóng góp gì mới mà chỉ triển khai qua quá trình lập luận những kết luận nhất định từ các nguyên tắc của mình, những kết luận đó rốt cuộc đứng trên trực giác đã chấp nhận không cần chứng minh sự thật của các tiên đề. Do đó, nếu ta chấp nhận các tiên đề khác nhau là đúng, toán học và các kết luận của ta cũng sẽ tương ứng khác nhau. Toán học mới cho thấy nhiều ví dụ về điều này, và các kết luận của nó tất yếu khác với toán học Euclid và cơ học cổ điển dựa trên toán học sau. Và đó cũng là lý do tại sao vật lý học mới, dựa trên toán học mới, khác với vật lý học cũ.
Như trong toán học, cũng vậy trong triết học — tùy theo các nguyên tắc ta xuất phát và coi là tự hiển nhiên, ta đạt đến những kết luận có vẻ đúng về mặt lô-gic nhưng thực ra đã được thai nghén trong các nguyên tắc ta đã xuất phát và đã nhận ra bằng trực giác. Như vậy, trong triết học cũng thế, lô-gic là phương pháp trình bày và vô cùng có giá trị với tư cách đó, nhưng nó không dẫn đến sự thật hay tạo ra sự thật; chỉ có trực giác mới nhận ra sự thật.
Ta có một sự khao khát được nhìn thấy những niềm tin yêu thích của mình được chứng minh lô-gic; thật ra, hầu hết chúng ta đều nghiện chứng minh — đó là dấu hiệu kiểm định về sự nghiêm túc trí tuệ với ta. Một học thuyết được trình bày không có chứng minh thì như một người lạ không có giấy tờ hay giới thiệu; ta nhìn anh ta với vẻ không tin và không thể chấp nhận anh ta theo giá trị chính mình của anh ta như một con người. Anh ta cũng phải được “chứng minh” với ta, phải được liên kết vào chuỗi những gì đã biết mà cuộc sống thông thường của ta bao gồm. Một học thuyết hay sự thật tự trình bày không có chứng minh, chỉ dựa vào giá trị cao quý của chính mình, thì cũng gây bất an cho đa số người như người lạ không có tên và quê quán vậy. Ta sợ nó; với ta nó như một cuộc xâm lăng từ một thế giới chưa biết. Và đúng là như vậy — đó là sự xâm lăng từ một thế giới khác, từ thế giới thực duy nhất, từ thế giới của Thực Tại; đó là tầm nhìn của sự thật, hay trực giác, thứ trong thế giới đó biết với tốc độ chớp nhoáng và với sự chắc chắn tức thì, và ánh lên thông điệp sự thật xuống cái tối tăm của lý trí bị trói buộc bởi ảo tưởng của ta. Lý trí đứng bối rối trước cuộc viếng thăm từ trên cao như vậy. Như thể một vị Thần từ đỉnh Olympus cao ngất giáng xuống một phòng khách ngoại ô; sự hốt hoảng và bất lực hoàn toàn trước cái xa lạ sẽ tiếp theo. Ta sẽ sợ người lạ trần trụi từ thế giới thần thánh giáng xuống giữa ta và vội vã khoác lên anh ta trang phục của sự đứng đắn và dẫn anh ta vào thế giới của thông thường như người anh em từ nước ngoài về. Như vậy anh ta được liên kết với thế giới thông thường của ta, anh ta là con của ai đó, anh ta có tên và quê quán.
Cũng theo cách lén lút đó mà lý trí bối rối của ta khoác trang phục lên người lạ viếng thăm từ trên cao — Trực Giác. Khi trực giác chớp nhoáng xuống cái thế giới lô-gic ổn định và trật tự tốt đẹp của ta, nó được vội vã khoác lên trang phục của lô-gic trước khi hàng xóm nhìn thấy, và được giới thiệu với thế giới đang chờ đợi như là đứa con lô-gic của những tiền đề đã quen biết. Chỉ khi đó, và chỉ khi đó thôi, ta mới cảm thấy có thể chấp nhận anh ta một cách an toàn và sẽ không bị nguy hại vì liên kết với thần thánh.
Không có một triết học nào có tầm quan trọng mà không biết đến những cuộc viếng thăm như vậy từ trên cao, không có triết học nào không có gốc rễ trong sự mặc khải. Khi ta đọc cuộc đời hay thư từ của những nhà triết học vĩ đại, ta thấy họ trong thời trẻ — có khi nhiều năm trời — suy nghĩ về những vấn đề của cuộc sống, họ cảm thấy cái đói khát, cái khao khát hiểu biết, họ biết cái thèm muốn sự thật, và với từng tế bào của con người mình vươn đến cái chưa biết. Nhiều năm họ đọc và học, nếu không phải trong sách của người đời thì trong Cuốn Sách của Đời Sống; họ thu thập nguyên liệu thô mà từ đó tâm trí sáng tạo có thể xây dựng công trình của mình. Nhưng với tất cả trong số họ đều đến cái khoảnh khắc, trong chốc lát, bức màn được vén lên và họ có được sự mặc khải của mình, họ trải nghiệm sự thật sống động. Chẳng phải Nietzsche đã kể với ta rằng khi ông đi trong những khu rừng của Sils-Maria, bầu trời mở ra và thế giới của sự thật nói với ông bằng một giọng nói không nhỏ nhoi? Trong những khoảnh khắc như vậy — thường là khi lý trí đang thư giãn và chỉ lướt nhẹ trên cuộc sống — tầm nhìn của trực giác bùng sáng như chớp nhoáng trên bầu trời tối tăm của đời sống tinh thần ta, và ta biết với sự chắc chắn tuyệt đối.
Trong khoa học cũng vậy, đã có khoảnh khắc khai sáng trong đời Newton khi ông nhìn quả táo rơi và tìm thấy điều ông đã kiếm tìm. Không nghi ngờ gì là tâm trí ông lúc đó không đang tập trung vào những vấn đề lớn lao và nặng nề; có lẽ ông chỉ đang nhớ lại với sự thỏa lòng một sự kiện nhỏ trong cuộc sống thường ngày và nhường mình cho sự yên bình của khoảnh khắc đó. Nhưng chính trong những khoảnh lặng hiếm hoi của cuộc sống bận rộn đó mà trực giác có thể nói với ta; chỉ khi lý trí bị trói buộc bởi ảo tưởng với sự tự khẳng định ồn ào của nó yên lặng trong chốc lát thì tiếng nói của sự thật sống động mới có thể được nghe thấy. Khoảnh khắc khai sáng có thể là kết quả của nhiều năm tìm kiếm tinh thần, như kéo dài bằng cảm ứng một hoạt động tương ứng trong thế giới của Thực Tại, nơi tâm trí không bị ràng buộc nhìn thấy tầm nhìn và nói với tâm trí đang trong vòng giam cầm. Nhưng luôn luôn là cái tia chớp của trực giác chỉ cho ta thấy sự thật và phối hợp tất cả nguyên liệu lý trí ta đã vất vả thu thập.
Thật sẽ là một sự thành thật đáng khen biết bao nếu có ngày ta thấy mình có thể thừa nhận những đứa con của mình — được sinh ra từ tầm nhìn về sự thật — mà không cảm thấy sức ép của thể diện phải cung cấp cho chúng một nguồn gốc hợp pháp và tất yếu từ lập luận lô-gic. Thay vì nói ngay ở đầu bài trình bày — “đây là điều tôi đã thấy, đây là điều tôi biết” — ta vẽ ra vẻ ngây thơ giả tạo và sau khi lý luận lô-gic và thâm sâu qua hàng trăm trang nặng nề, ta mang ra như kết luận cái điều duy nhất mà ta đã nhắm đến suốt từ đầu, và với vẻ ngạc nhiên được mô phỏng khéo léo ta đứng kinh ngạc trước kết quả tuyệt vời của lý luận lô-gic của mình. Ta đã “chứng minh” sự thật của mình; không còn dấu vết nào của trực giác kẻ ngoài vòng pháp luật có thể tìm thấy trong trình bày lô-gic của ta; chẳng phải rõ ràng là ta đã bắt đầu lý luận với tâm trí hoàn toàn không thành kiến và học thuyết của ta là kết quả lô-gic của sự thâm nhập trí tuệ của ta? Ta như ảo thuật gia lấy con thỏ ra từ cái mũ cao nơi anh ta đã giấu nó suốt, nhưng nó hiện ra như là kết quả kỳ diệu của những cử chỉ ma thuật và bài khấn của anh ta. Như vậy các nhà khoa học và triết học của ta thường ngâm bài khấn mệt mỏi của mình qua nhiều tập sách nặng nề và, giống ảo thuật gia, lấy ra con thỏ nhỏ của mình ở cuối cùng — trong khi họ đã có nó trong túi ngay từ đầu chương một.
Rất hiếm ngay cả trong khoa học khi một khám phá nổi lên từ những thí nghiệm không hướng về nó. Nói chung, trực giác thấy một giải thích hay lý thuyết có thể có, và những thí nghiệm sau đó chứng minh nó chỉ là việc kiểm tra cái giả thuyết hay lý thuyết đã có sẵn. Columbus biết rằng anh sẽ đến được đất liền khi đi về hướng Tây và chỉ chứng minh điều đó bằng hành động của mình.
Tuy nhiên, ta không bao giờ nên coi thường trình bày và chứng minh lô-gic. Chúng có giá trị, chúng cần thiết cho sự đánh giá trí tuệ đầy đủ, nhưng chúng không tạo ra gì. Chỉ khi lô-gic và chứng minh tuyên bố rằng họ đã tạo ra sự thật và chứng minh rằng không thể khác được, ta mới cần tranh luận với chúng — khi đó cần thiết phải đặt chúng vào vị trí khiêm tốn hơn, dù cũng không kém phần cần thiết, là vị trí của chúng trong tự nhiên. Điều ta cần khắc phục là sự nghi ngờ vô căn cứ của ta về trực giác như người lạ từ không đâu; ta phải bắt đầu nhận ra, đặc biệt trong triết học, rằng mọi điều con người từng nghĩ ra có giá trị trong lịch sử triết học, anh ta đã giảng dạy như là kết quả của cái nhận thức nội tâm và trực tiếp về sự thật mà ta gọi là trực giác, chứ không phải là kết quả phi thường của lý luận mệt nhọc.
Triết học Phương Đông chưa bao giờ giả vờ rằng nó đạt được kết quả bằng lô-gic và chứng minh, mà luôn luôn trình bày thẳng thắn các học thuyết của mình, nói rằng — tôi biết như vậy. Do đó các luận thuyết như Bhagavad Gita hay Tao Te Ching bao gồm một số các cách ngôn hay tiên đề triết học cần được suy nghĩ và nghiền ngẫm để ta có thể hiểu đầy đủ chúng trong ngữ cảnh của chúng. Một lợi thế lớn của phương pháp triết lý này là sự ngắn gọn tột cùng của những cuốn sách được tạo ra; so với những tập sách cồng kềnh của triết học Tây phương, những luận thuyết ngắn ngủi của Phương Đông như một làn gió tươi mát từ thiên đường.
Tôi không biết liệu chúng ta có mất đi điều gì thực sự có giá trị khi theo phương pháp của họ hay không; như hiện tại, những lý luận lô-gic, chứng minh và phản chứng của ta không bao giờ thuyết phục được ai về một lý thuyết mà họ không nhận ra bên trong là đúng. Một lý luận mạch lạc và chứng minh có vẻ không thể bác bỏ có thể tạm thời thành công và khiến ta im lặng và gật đầu, nhưng khi ta về đến nhà ta bị thuyết phục không hơn lúc trước; tất cả những gì đạt được chỉ là sự đồng ý miễn cưỡng tạm thời vì thiếu lập luận phản bác thích hợp. Do đó sự vô ích của các cuộc tranh luận; trí tuệ nhanh nhẹn hơn và câu trả lời sẵn sàng hơn thắng ngày hơn là trí tuệ sâu sắc hơn.
Tuy nhiên, cần có khả năng phân biệt và nhận ra sự thật nếu ta muốn phân biệt được trí tuệ sống động, dù đến với ta trong trang phục đơn giản và khiêm nhường, với cái lấp lánh rực rỡ nhưng rỗng tuếch của lý trí, dù nó hiện ra trong tất cả những bộ trang phục phong phú và trang trọng mà lập luận khéo léo và câu trả lời hay cung cấp. Hiếm có người ngày nay trong thời sùng bái lý trí có thể nhận ra tiếng nói của trực giác; và tuy nhiên, nếu thiếu trực giác, ta không thể lấy những cái nạng của lô-gic và lập luận để thay thế.
Với nhiều người, việc nhận ra trực giác như một con đường hợp lệ đến tri thức gắn liền với những ý tưởng về sự bất định và mơ hồ. Họ cảm thấy khi một học thuyết được trình bày trên cơ sở lập luận lô-gic và lý luận chắc chắn, ít nhất có gì đó để hỗ trợ nó — và dù lập luận hay lô-gic có thể không hoàn toàn chứng minh được điểm đó, ít nhất chúng cung cấp cho ta một tiêu chuẩn để tán thành hay phản đối. Thế nhưng khi tất cả những gì được trình bày cho ta chỉ là trực giác của ai đó rằng cái này hay cái kia là đúng, làm sao ta phân biệt được giữa trực giác đúng và sai, và làm sao ta bảo vệ mình chống lại lỗi lầm? Nhưng ta đang bảo vệ mình chống lại lỗi lầm như thế nào hiện tại, trong khi trực giác chỉ được che giấu bằng lý luận và cái gọi là chứng minh? Trong triết học đặc biệt, ta lẽ ra phải quen đến nay với sự thật rằng không có học thuyết hay lý thuyết nào không được chứng minh chắc chắn vào một thời điểm như nó bị bác bỏ ở thời điểm khác. Thực ra, khi ta đến phân tích nó, ta thấy phán xét của ta hiện tại cũng có tính chất trực giác như nó sẽ có nếu học thuyết được trình bày cho ta theo giá trị mặt của nó mà không có vẻ chứng minh. Những gì xảy ra bây giờ là ta không cần sợ thừa nhận niềm tin của mình vì chúng được khoác trang phục nghiêm trang của lô-gic. Đó là sợ hãi giữ chân ta, sợ buông bỏ cái điểm tựa duy nhất mà lý trí ta biết — lập luận và chứng minh lô-gic. Khi trực giác được nhận ra rộng rãi hơn như là một con đường hợp lệ đến tri thức, sự bất định vốn hiện đang đi kèm theo những lần viếng thăm thỉnh thoảng của nó sẽ biến mất; một cơ quan hay chức năng mới sẽ luôn bất định trong những hoạt động ban đầu của nó. Tuy nhiên nó có thể trấn an ta khi nhận ra rằng những bậc thầy vĩ đại nhất của tất cả mọi thời đại đều luôn trình bày những kết luận của mình theo giá trị nội tại của chúng như là những trực giác; ta không thấy một Đức Kitô hay Đức Phật chứng minh chắc chắn rằng điều ngài nói là đúng, hay lý luận lô-gic ra học thuyết của ngài. Các ngài có thể coi thường việc dùng cái giả vờ chứng minh như vậy và vẫn nói như không người nào từng nói, và hàng trăm triệu người đã theo các ngài đã tìm thấy sự xác tín đủ trong lời nói của các ngài thông qua chính tinh thần sự thật và nói qua các ngài. Chỉ khi tinh thần đó vắng mặt thì chứng minh và lý luận lô-gic mới phải lấp đầy khoảng trống và che giấu cái rỗng tuếch bên trong.
Dù vậy ta luôn phải nhận ra giá trị của lý luận lô-gic và chứng minh trí tuệ như là một kỹ thuật để truyền đạt cho đồng loại cái ta biết bên trong. Nó làm phong phú học thuyết ta đưa ra và liên kết nó với tất cả những gì quen thuộc và đã biết với ta — khi nó được trình bày không phải như một sự thật trần trụi; trong khoa học đây luôn là cách thích hợp để trình bày một học thuyết hay sự thật, vì ở đó thí nghiệm xác nhận khẳng định tạo thành bằng chứng; trong triết học bằng chứng thí nghiệm như vậy chỉ hiếm khi, nếu không phải là không bao giờ, có thể.
KHOA HỌC VÀ TRIẾT HỌC
Điều cốt yếu là ta phải hiểu những lãnh địa tương ứng của khoa học và triết học. Khoa học khảo sát thế giới như nó hiện ra trong hình ảnh thế giới của ta và không đặc biệt quan tâm đến mối quan hệ của hình ảnh thế giới đó với một Thực Tại tối hậu nào hay cách nó được tạo ra trong ý thức của ta. Như vậy khoa học không nhiều đề cập đến thế giới của Thực Tại mà đến các hiện tượng trong ý thức ta. Nó bằng lòng chấp nhận hình ảnh thế giới này của ta như một Thực Tại độc lập và quên đi hay thậm chí phủ nhận mối quan hệ thiết yếu của nó với ý thức ta. Kết quả là khoa học ở một mức độ lớn vẫn phụ thuộc vào những giới hạn của hình ảnh thế giới và chia sẻ ảo tưởng của nó. Nó không nhiều đề cập đến sự vật như chúng thực sự là mà đến sự vật như chúng hiện ra; các quy luật của nó là những cái bóng của sự thật sống động.
Chúng ta không được mắc sai lầm nhầm lẫn các lãnh địa của khoa học và triết học, dù chúng soi sáng lẫn nhau nhiều đến đâu và bổ khuyết cho những thiếu sót của nhau. Triết học đề cập đến các nguyên lý và Thực Tại tối hậu là nền tảng vĩnh cửu của thế giới ta; khoa học đề cập đến vô số hiện tượng trong đó những nguyên lý đó hiện ra với ta. Triết học đề cập đến “tại sao”, khoa học đề cập đến “như thế nào”. Triết học tìm kiếm bản chất tối hậu của tồn tại; khoa học quan tâm đến chức năng và hoạt động của cái thế giới hình thức bao quanh ta. Nếu khoa học đề cập đến cái phía hình thức mà hình ảnh thế giới của ta trình bày, triết học đề cập đến cái phía sự sống cần được tiếp cận trong và qua ý thức của chính ta. Nội quan là phương pháp của nhà triết học cũng như quan sát các hiện tượng bên ngoài là phương pháp của nhà khoa học. Như vậy hai bên, đề cập tương ứng với hiện tượng hay bề ngoài bên ngoài và Thực Tại hay các nguyên lý cuối cùng bên trong, bổ sung cho nhau và đều cần thiết như nhau cho sự hiểu biết đầy đủ về thế giới.
Chỉ có sự không khoan dung trẻ con mới khiến nhà khoa học coi thường triết học như sự suy đoán vô ích, hay ngược lại khiến nhà triết học nhìn xuống công việc của nhà khoa học như chỉ đề cập đến cái không thực. Để biết về Thực Tại tối hậu, nhà khoa học sẽ luôn phải chạy đến nhà triết học, cũng như nhà triết học sẽ phải cầu đến nhà khoa học để tìm thông tin và tri thức về vô vàn chi tiết của thế giới bề ngoài và cách sự vật vận hành. Như vậy ta cần triết học cho những câu trả lời tối hậu; khoa học cho tri thức chi tiết và kiểm soát các lực tự nhiên. Sẽ sai như nhau khi yêu cầu triết học cho ta biết ở áp suất nào thì nước sôi, cũng như khi yêu cầu khoa học cho ta biết ý nghĩa của điều ác hay mối quan hệ của thế giới này với Nguyên Nhân tối hậu của nó. Triết học cũng bất lực trong việc chế tạo xe hơi hay kính thiên văn như khoa học khi được hỏi mục đích của cuộc sống, mối quan hệ của thời gian và cái vĩnh hằng, hay mức độ tự do của ý chí con người. Sự khinh bỉ lẫn nhau giữa triết học và khoa học vừa có hại vừa không có căn cứ, nhưng ta phải luôn đề phòng việc đặt câu hỏi của một bên cho bên kia. Một câu trả lời khoa học cho câu hỏi triết học tất yếu sẽ không thỏa mãn và lạc đề, cũng như một giải pháp triết học cho câu hỏi khoa học sẽ rỗng nghĩa và vô giá trị về mặt khoa học. Ta tôn trọng cả hai nhất bằng cách hiểu các lãnh vực tri thức tương ứng của chúng và phối hợp chúng vì lợi ích lớn nhất, không bao giờ bằng cách làm mờ nhiệm vụ tương ứng của chúng.
Trong thời Trung Cổ, khoa học và triết học là một, trong sự lẫn lộn có hại cho sự phát triển của cả hai; từ thời Bacon, khoa học và triết học ngày càng phân kỳ cho đến thế kỷ mười chín khi dường như chúng loại trừ lẫn nhau; nay, ở thế kỷ hai mươi, chúng cần được phối hợp — không còn nhầm lẫn như trong Thời Trung Cổ, mà được thấy trong một sự thống nhất nơi mỗi bên có nhiệm vụ và chức năng riêng, được định nghĩa rõ ràng và phân biệt với bên kia.
HUYỀN THUẬT HỌC VÀ HUYỀN HỌC
Thật thú vị khi thấy rằng sự khác biệt thiết yếu và tính bổ sung lẫn nhau của triết học và khoa học cũng thể hiện qua những sự mở rộng tương ứng của chúng trong huyền học và huyền thuật học. Chính trong Thần Học hiện đại ta tìm thấy sự trình bày rõ ràng nhất về hai điều này, đặc biệt là cái sau — huyền thuật học.
Tuyên bố của huyền thuật học là thế giới vật lý này không phải là thế giới duy nhất có thể được khảo sát một cách khoa học; nó dạy rằng có những thế giới của vật chất vi tế hơn có thể được khám phá khoa học bởi những ai đã phát triển các khả năng tri giác trong những thế giới đó — cái ta có thể gọi là các giác quan huyền bí, chẳng hạn như thần nhãn ở các cấp độ khác nhau, thần nhĩ và các khả năng tương tự khác.
Không có gì khó tin hay bất khả thi trong một sự mở rộng tri giác cảm quan vượt qua giới hạn của năm giác quan thông thường của ta. Ngay cả trong phạm vi các giác quan thông thường cũng có những khác biệt đáng chú ý về giới hạn của tri giác; một số người nghe được âm thanh ở tần số cao hơn, hay nhìn thấy ánh sáng ở bước sóng cao hơn so với người khác. Và ngoài độ nhạy cao hơn trong tri giác thông thường còn có bằng chứng về cái gọi là sự hoán vị của các chức năng giác quan thông thường sang hầu như bất kỳ bộ phận nào trên cơ thể. Như vậy Richet kể trong tác phẩm Ba mươi năm Nghiên cứu Tâm linh (tr. 186 ff.) về trường hợp một người, trong trạng thái thôi miên, tạm thời có khả năng nhìn được tập trung ở đầu ngón tay, đến mức bà có thể đọc một trang chữ in bằng tay thay vì bằng mắt. Thí nghiệm này và những thí nghiệm tương tự chỉ ra khả năng tri giác cảm quan mà không cần dùng năm giác quan thông thường, và sự tồn tại của một giác quan thứ sáu không phụ thuộc vào các cơ quan giác quan vật lý.
Chính ta, trong cuộc sống thường ngày, không thể không gặp những trường hợp mà tri thức về các sự kiện được có được khi không có bằng chứng giác quan nào để cung cấp nó. Tri thức về bệnh tật hay cái chết của một người bạn ở xa, về một tai nạn hay thảm họa xảy ra ở nơi khác, hay ngay cả về một sự kiện sẽ xảy ra trong tương lai — đều được có được bằng một giác quan bên trong vượt qua năm giác quan vật lý. Cuối cùng còn có bằng chứng của những người tuyên bố đã phát triển có ý thức các giác quan thông thường không phát triển ở người, nhưng có lẽ có thể được phát triển bởi những ai theo đuổi sự huấn luyện cần thiết.
Chỉ với sự phát triển rộng rãi hơn của các năng lực huyền thuật, huyền thuật học mới có thể trở thành khoa học — khoa học về những thế giới vật chất vi tế hơn thế giới vật lý. Trong khi đó ta phải phân loại bất cứ điều gì được tạo ra từ điều tra huyền thuật như thuộc về lãnh địa của khoa học hơn là của triết học. Giống khoa học, huyền thuật học là sự điều tra một thế giới bên ngoài hay các thế giới bên ngoài trong tính đa dạng của hình thức và màu sắc, được trình bày trong các chiều của thời gian và không gian. Như vậy nó là sự quan sát và điều tra một hình ảnh thế giới; như khoa học thông thường khảo sát hình ảnh thế giới vật lý, huyền thuật học cố gắng khảo sát một hình ảnh thế giới ete, tinh linh hay tinh thần. Do đó nó có cùng khả năng và giới hạn như khoa học; nó dẫn đến tri thức về “như thế nào” chứ không phải “tại sao” của sự vật, dẫn đến tri thức và kiểm soát các thế giới bên ngoài chứ không phải đến tri thức về các nguyên lý tối hậu.
Huyền thuật học cũng như khoa học không có câu trả lời cho những câu hỏi tối hậu; nó có thể chỉ cho ta thấy cách sự vật hoạt động và vận hành — tức là “như thế nào” — xa hơn một chút so với khoa học thông thường, nó có thể chỉ cho ta thấy sự vật hiện ra trong một hình ảnh thế giới vượt ra ngoài hình ảnh thế giới vật lý thuần túy, nhưng về bản chất không phải là nhiệm vụ của khoa học hay huyền thuật học để trả lời những câu hỏi cuối cùng. Kỳ vọng những điều đó từ chúng là hiểu sai sứ mệnh và khả năng của chúng; ta không mong một bóng đèn điện tạo ra âm nhạc hay một cây đàn piano phát sáng. Mỗi cái có sức mạnh và giá trị riêng của mình, và sẽ là sự ngu dốt của ta chứ không phải sự thiếu sót của chúng nếu ta đòi hỏi điều sai từ chúng và chúng không thể cung cấp.
Điều quan trọng là phải hiểu điều này, đặc biệt khi trong Thần Học hiện đại tuyên bố quá thường xuyên rằng huyền thuật học cung cấp một triết học và trả lời những vấn đề của cuộc sống. Nó không cung cấp một triết học về cuộc sống hơn là khoa học, và nếu ta kỳ vọng huyền thuật học trả lời những vấn đề căn bản, ta đã hiểu sai chức năng của nó. Huyền thuật học cung cấp sự mở rộng của khoa học vào những thế giới vi tế hơn, chủ yếu là thế giới cảm xúc và thế giới tư duy, nhưng những điều tra của nó là điều tra về một hình ảnh thế giới chứ không phải kinh nghiệm về Thực Tại. Điều này không hề làm nhỏ đi phạm vi của huyền thuật học; nó chỉ sửa chữa một sự hiểu lầm dẫn ta đến chỗ vô lý. Trong các chương sau ta sẽ có dịp chỉ ra nhiều ví dụ về việc các kết quả thú vị và có giá trị của điều tra huyền thuật bị nhầm là các sự thật triết học và được trình bày như là trả lời các câu hỏi tối hậu. Sự nhầm lẫn này gây hại cho sự phát triển của huyền thuật học, vì như vậy, những tuyên bố được đưa ra nhân danh nó mà nó không bao giờ có thể thực hiện được. Huyền thuật học cũng không có câu trả lời cho những vấn đề như bản chất của điều ác, tự do ý chí, sự công bằng của cuộc sống hay quan hệ của ý thức với vật chất — cũng như khoa học vậy. Nếu ta muốn theo đuổi những câu hỏi siêu hình học này, ta phải đi theo một con đường khác.
Cũng như trong Thần Học hiện đại ta thấy huyền thuật học hay khả năng tâm linh được trình bày như là sự mở rộng của khoa học, ta cũng thấy một huyền học triết học được trình bày như là sự mở rộng của triết học. Học thuyết căn bản của Thần Học — về sự thống nhất của tất cả sự sống — thuộc về lãnh địa của huyền học triết học này; không có sự điều tra thần nhãn nào ở bất kỳ cấp độ nào có thể quan sát được sự thống nhất của sự sống.
Trong huyền học triết học của mình, Thần Học vượt lên trên sự suy đoán lý trí và dẫn đến kinh nghiệm về Thực Tại. Trong điều này nó cho thấy sự liên kết với huyền học Tân Plato; Plotinus cũng tuyên bố rằng triết học có thể là hơn là một cấu trúc lý trí, rằng có thể trải nghiệm như những Thực Tại nội tâm những điều mà triết học thông thường chỉ trình bày như là những niềm tin lý trí. Như vậy ông nói (Ennead VI., 9, 4):
Plato nói về Sự Thống Nhất rằng nó không thể nói được và không thể mô tả được. Tuy nhiên ta nói về nó, ta viết về nó, nhưng chỉ để khích lệ tâm hồn ta qua các cuộc thảo luận của ta, và hướng chúng về cái cảnh tượng thần thánh này, cũng như ta có thể chỉ ra con đường cho ai đó muốn nhìn thấy một vật gì đó. Sự hướng dẫn, thật vậy, chỉ đi xa đến mức chỉ ra con đường và dẫn ta theo đường; nhưng để có được tầm nhìn về Thần Thánh là công việc thích hợp của người muốn có được nó.
Triết học lý trí có thể đi đến kết luận rằng có một thế giới của Thực Tại mà thế giới hàng ngày của ta chỉ là hình ảnh được tạo ra trong ý thức ta; huyền học triết học đi thêm một bước nữa và tuyên bố rằng có thể cho con người bước vào thế giới của Thực Tại và trải nghiệm sự thật sống động. Hơn nữa, không bằng lòng với việc chỉ nhận ra, như một số triết học làm, rằng trong ý thức thông thường ta đang bị ảo tưởng chi phối, huyền học triết học tuyên bố sức mạnh cho con người để chinh phục ảo tưởng này và thiết lập bản thân trong Thực Tại. Như vậy, khi triết học tin, huyền học triết học kinh nghiệm — nó vượt lên trên niềm tin trong tồn tại.
Theo cách này, huyền học triết học là sự mở rộng hợp lệ của triết học thông thường như huyền thuật học hay tâm linh học là của khoa học thông thường. Thật thú vị khi thấy rằng những xu hướng tiến hóa của triết học hiện đại đang hướng về huyền học triết học này, dù nó có thể không được đặt tên như vậy. Sự nhận biết trực giác trong triết học của Bergson như là một phương pháp tri thức vượt qua lý trí; sự thiếu kiên nhẫn với các hệ thống triết học lý trí mà cuộc sống được kỳ vọng phải phù hợp và nỗ lực hướng đến một triết học sáng tạo, sống động và dựa trên kinh nghiệm, chẳng hạn như ta tìm thấy trong tác phẩm của Bá tước Keyserling; sự quan tâm của nhiều nhà triết học đến toán học mới, rõ ràng trong tác phẩm của Bertrand Russell; và cuối cùng, một triết học huyền học rõ ràng như của Ouspensky trong Tertium Organum — tất cả đều là dấu hiệu của sự tiến hóa dần dần từ một triết học thuần lý sang một triết học của trực giác và kinh nghiệm.
Trong Thần Học hiện đại, chính thông qua phương diện huyền học triết học của mình mà ta phải tiếp cận những câu hỏi tối hậu. Học thuyết của Thần Học về ảo tưởng hay maya của các thế giới hiện tượng, giáo lý của nó rằng mục tiêu của cuộc sống là đạt đến Thực Tại tối hậu có thể đạt được qua quá trình nhận ra nội tâm, trên hết học thuyết của nó về sự thống nhất của sự sống và tình huynh đệ vũ trụ — tất cả những điều này thuộc về Thần Học như là huyền học triết học. Với tư cách đó, nó thực sự cung cấp một triết học về cuộc sống; với tư cách đó, nó dẫn đến kinh nghiệm về bí ẩn của cuộc sống; với tư cách đó, nó có thể giúp ta với những vấn đề như sự công bằng tối hậu của cuộc sống, nguồn gốc của điều ác và khổ đau, hay mối quan hệ của sự sống với hình thức hay của linh hồn với thể xác. Nhưng với tư cách đó, nó không và không thể trả lời những câu hỏi liên quan đến các hình thức chi tiết của hình ảnh thế giới ta — dù vật lý, cảm xúc hay tinh thần; tri thức chi tiết đó, cũng như tri thức về cách vận hành của sự vật, thuộc về khoa học và phần mở rộng của nó — huyền thuật học.
Trong văn học Thần Học cho đến nay vẫn chưa có sự hiểu biết và phân biệt rõ ràng giữa hai phương diện của giáo lý đó — phương diện khoa học huyền thuật và phương diện triết học huyền học — và do đó ta thường gặp những dị giáo triết học ở một phía, nơi kết quả của điều tra huyền thuật được đưa ra như câu trả lời cho các câu hỏi triết học, và dị giáo khoa học ở phía kia, nơi những câu hỏi chỉ có thể trả lời bằng một huyền thuật học chính xác và khoa học lại được trả lời bằng những tuyên bố triết học hay huyền học. Kết quả là những giá trị đích thực của Thần Học bị che khuất cả trong mắt nhà khoa học lẫn nhà triết học, và sự tiến bộ của điều tra Thần Học bị cản trở.
Thật kỳ lạ khi thấy trong suốt lịch sử loại hình khoa học và loại hình triết học, cũng như nhà huyền học và nhà huyền thuật học, đã không hiểu nhau và thậm chí chống đối nhau. Cuộc đấu tranh lâu dài giữa tôn giáo và khoa học bắt nguồn từ sự hiểu lầm của chúng — một sự hiểu lầm được nhấn mạnh thêm khi tôn giáo trở thành một chính thống giáo điều và khoa học trở thành một chủ nghĩa duy vật cũng giáo điều như thế, như họ đã vậy một thế kỷ trước. Về nguyên tắc ta đã thấy sự đối lập của hai loại hình ngay trong sự không tán thành của Plotinus, nhà huyền học triết học, đối với những tác phẩm của người Ngộ đạo, mà xu hướng của họ rõ ràng là theo hướng huyền thuật học. Trong thời gian gần đây hơn, ta thấy một cuộc chiến tương tự, dù cởi mở hơn, giữa huyền học triết học của những Nhà Plato Cambridge thế kỷ mười bảy và huyền thuật học của những người Rosicrucian và nhà Giả kim thuật thời đó. Khi ta nghiên cứu loạt tờ bướm tranh luận trao đổi giữa Henry More, nhà Plato học, và Thomas Vaughan, được biết đến như Eugenius Philalethes, người Rosicrucian nổi tiếng, ta không chỉ bị ấn tượng bởi sự hiểu lầm về phương pháp và đóng góp tri thức của nhau, mà còn bởi sự cay đắng khó che giấu và sự khinh bỉ lẫn nhau mà ngay cả tựa đề các tờ bướm của họ cũng bộc lộ. Vậy mà cả hai đều là những con người có hiểu biết cao quý và uyên bác, và khi thấy mức độ đối nghịch của họ, ta có thể tưởng tượng điều gì sẽ xảy ra trong trường hợp những đại diện kém hơn ở cả hai phía.
Chúng ta phải học cách thấy cả hai — triết học và khoa học — cũng như những sự mở rộng của chúng, huyền học và huyền thuật học, được phối hợp trong một sự thống nhất cao hơn mà không làm lẫn lộn các phương pháp và mục tiêu đặc trưng của chúng. Các phương pháp của khoa học và huyền thuật học sẽ luôn là quan sát chính xác bằng các giác quan của ta và sự phát triển lý trí của những dữ liệu giác quan đó; phương pháp của triết học và của huyền học triết học sẽ luôn là của trực giác hay sự nhận ra trong ý thức. Và chính phương pháp nhận ra đó là cái ta phải dùng trong việc khám phá thế giới của Thực Tại.
Hết Chương 3
Còn 8 chương nữa


